13/01/2026 03:03
Nghiên cứu thực nghiệm sự làm việc của cừ bê tông cốt GFRP
(TS Võ Mạnh Tùng Bộ môn Công trình Bê tông cốt thép, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội)
Bài báo nghiên cứu sự làm việc của cấu kiện cọc ván cừ bê tông cốt sợi thủy tinh. Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện với thí nghiệm uốn mẫu ván cừ chịu uốn tỷ lệ 1:1, mẫu M1 với nhịp 3m.

Tóm tắt
Mục đích của bài báo là nghiên cứu sự làm việc của cấu kiện cọc ván cừ bê tông cốt sợi thủy tinh (GFRP-Glass Fiber Reinforced Polymer). Nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện với thí nghiệm uốn mẫu ván cừ chịu uốn tỷ lệ 1:1, mẫu M1 với nhịp 3m. Kết quả thực nghiệm về ứng xử chịu uốn, quan hệ giữa momen, độ cong và độ cứng của loại ván cừ này cho thấy phù hợp để ứng dụng thực tế, đặc biệt ở những vùng có tính chất ăn mòn cao như ven sông và ven biển. Với tính năng vượt trội về khả năng chống ăn mòn của cốt GFRP trong môi trường xâm thực mặn, chiều dày lớp bê tông bảo vệ không cần quá lớn như loại cừ bê tông cốt thép truyền thống, dẫn tới chiều dày cấu kiện giảm xuống, giảm trọng lượng tổng thể của cừ, thuận tiện cho việc thi công thực tế.
Từ khóa: Ván cừ bê tông đúc sẵn; cốt sợi thủy tinh; độ cứng; độ cong.
Abstract
The purpose of this paper is to study the performance of glass fiber reinforced polymer (GFRP) sheet piles. Experimental research was conducted with bending tests on sheet piles scale 1:1, sample M1 with span of 3m. The results on flexural behavior, the relationship between moment, the curvature and the stiffness of this type of sheet pile show that it is suitable for practical application, especially in areas with high corrosion properties such as river banks and coastal areas. With the outstanding anti-corrosion ability of GFRP reinforcement in saline erosive environments, the thickness of the cover does not need to be as large as that of traditional reinforced concrete sheet piles, leading to a reduction in the thickness, reducing the overall weight of the pile, convenient for actual construction.
Keywords: Precast concrete sheet piles; glass fiber reinforced polymer; stiffness; curvature.
1. Giới thiệu
Trong vòng 20 năm qua, kết cấu tường chắn sử dụng cọc ván bê tông cốt thép đã được áp dụng khá nhiều ở các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam để bảo vệ các công trình ven sông kết hợp với việc chống xói lở bờ sông, công trình hố đào sâu, hệ thống kè các đường giao thông có địa hình bất lợi, hệ thống các đê, cống, đập và các cảng sông, biển,…
Cọc ván PC được ứng dụng vào Việt Nam từ năm 1999 ở các hạng mục hệ thống các kênh dẫn chính và các kênh nhánh tại cụm công trình nhiệt điện Phú Mỹ. Các công trình lấn biển ở tỉnh Kiên Giang, Quảng Ninh, kè bờ sông Đồng Nai khi sử dụng cọc ván PC này cũng cho hiệu quả cao.
Tuy nhiên, việc áp dụng cừ bê tông cốt thép đúc sẵn ở những môi trường có tính ăn mòn cao sẽ bị hạn chế do cốt thép và cốt thép ứng lực trước nhạy cảm với môi trường xâm thực mặn, vì vậy lớp bê tông bảo vệ sẽ dày hơn làm tăng trọng lượng bản thân và gây khó khăn trong việc thi công cừ. Khi thay thế cốt thép bằng loại cốt không bị ăn mòn GFRP là một ý tưởng hợp lý [10].
Trong những năm gần đây, một số nghiên cứu trong nước và thế giới cũng đã nghiên cứu sự làm việc của các loại cấu kiện bê tông cốt GFRP…, tuy nhiên những nghiên cứu sử dụng loại cấu kiện này làm tường chắn còn khá hạn chế.
Bài báo này sẽ trình bày thí nghiệm nghiên cứu khảo sát sự làm việc của ván cừ bê tông cốt GFRP. Thí nghiệm này được tiến hành kết hợp giữa Công ty TNHH Tư vấn Đại học Xây dựng và Công ty Nucetech tại phòng thí nghiệm LAS125 của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội.
2. Nghiên cứu thực nghiệm ván cừ bê tông cốt GFRP chịu uốn
2.1. Các nội dung nghiên cứu thí nghiệm: chương trình nghiên cứu thực nghiệm có những nội dung chính sau đây:
+ Thí nghiệm kéo cốt GFRP
+ Thí nghiệm xác định cường độ chịu nén của bê tông.
+ Thí nghiệm xác định mô đun biến dạng của bê tông.
+ Thí nghiệm ép chẻ xác định cường độ chịu kéo.
+ Thí nghiệm uốn mẫu cừ bê tông cốt GFRP.
2.2. Thí nghiệm kéo cốt GFRP
Thí nghiệm trên hình 2.1 để xác định cường độ chịu kéo đứt của mẫu cốt GFRP Ø12 được sử dụng làm cốt dọc chịu lực chính cho cấu kiện cọc ván cừ.
Kết quả cường độ chịu kéo mẫu được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1 – Kết quả thí nghiệm kéo mẫu GFRP
Đường kính : 12mm
Diện tích tiết diện: 113.09mm2
Lực kéo đứt: 70 (kN)
Giới hạn bền kéo: 619 (Mpa)
Modun đàn hồi: 44 (GPa)

Hình 2.1: Thí nghiệm xác định cường độ chịu kéo của cốt GFRP
2.3. Thí nghiệm xác định cường độ chịu nén của bê tông
Thí nghiệm được tiến hành với 2 mẫu N1 và N2 để xác định cường độ chịu nén của bê tông được sử dụng chế tạo cọc ván cừ. Mẫu N1 và N2 có hình lập phương, kích thước mẫu theo tiêu chuẩn Việt Nam 15x15x15cm được tiến hành nén như trên hình 2.2
Hình 2.2: Thí nghiệm xác định cường độ chịu nén
Theo tiêu chuẩn TCVN 3118:2022 [4], cường độ chịu nén của các mẫu thử được tính theo công thức sau đây:

Trong đó : P là tải trọng giới hạn gây phá hoại mẫu
A là diện tích tiến diện mẫu thử 15x15x15 cm
Kết quả thể hiện ở bảng 2.2
Bảng 2.2 – Kết quả thí nghiệm kéo mẫu GFRP

2.4. Thí nghiệm xác định mô đun biến dạng của bê tông
Hình 2.3: Thí nghiệm xác định modun biến dạng
Thí nghiệm trên hình 2.3 được tiến hành với 2 mẫu hình trụ MĐ1 và MĐ2 có đường kính 15cm, chiều cao 30cm. Mỗi mẫu có gắn 2 đầu đo biến dạng và được gia tải bằng kích thủy lực. Biểu đồ ứng suất biến dạng được thể hiện trên hình 2.4, kết quả mô đun biến dạng của bê tông thu được từ 2 mẫu thử khá tương đồng: Eb = 29,7GPa

2.5. Thí nghiệm ép chẻ xác định cường độ chịu kéo của bê tông
Thí nghiệm được tiến hành trên 1 mẫu hình trụ có đường kính D=15cm, chiều cao H=30cm. Lực ép chẻ gây phá hoại mẫu là 385,6kN. Theo tiêu chuẩn TCVN 8862:2011 [5], cường độ chịu kéo của bê tông được xác định theo công thức sau đây:

Từ cường độ chịu kéo của bê tông và thông số hình học của mẫu thí nghiệm có thể dự đoán giá trị momen gây nứt khi thí nghiệm theo lý thuyết đàn hồi như sau:
![]()
Với W = 1341231 mm3 là momen chống uốn tiết diện của mẫu ván cừ thí nghiệm (xem hình 2.7)
2.6. Thí nghiệm uốn mẫu cừ bê tông cốt GFRP
a) Sơ đồ thí nghiệm: được thể hiện trên hình 2.5 tuân thủ theo tiêu chuẩn thí nghiệm cấu kiện bê tông đúc sẵn của Nhật Bản JIS A 5373:2016 [6]. Trên sơ đồ thí nghiệm này, ván cừ chịu uốn phẳng có nhịp chịu uốn 3m, được gia tải bởi 2 lực tập trung cách nhau 1m ở giữa dầm. Chi tiết cấu tạo các gối kê hai đầu, thiết bị gia tải được lắp đặt như trên hình 2.6. Quy trình gia tải tuân thủ theo TCVN 9347:2012 [2].

Các thiết bị đo sau đây được sử dụng để thu thập các số liệu thí nghiệm: các thiết bị LVDT (Linear Variable Differential Transformers) được bố trí để theo dõi chuyển vị tại các vị trí V1, V2, V3; các thiết bị đo biến dạng được bố trí để theo dõi biến dạng tại các thớ làm việc của dầm T1, T2; thiết bị ghi số liệu tốc độ cao TDS-530 (high speed data logger). Độ mở rộng khe nứt được đo bằng kính soi nứt quang học chuyên dụng, có độ chính xác 0,01 mm. Gia tải bằng kích thủy lực như trên hình 2.6.
Giá trị chuyển vị của dầm được tính toán từ các số liệu đo chuyển vị các vị trí V1, V2, V3 như sau:


Hình 2.6 – Hình ảnh thí nghiệm.
b) Cấu tạo mẫu thí nghiệm: Mẫu thí nghiệm M1 có chiều dài 6m với tiết diện hình chữ U ngược để tăng độ cứng khi chịu uốn, với các thông số hình học như trên hình 5. Bê tông cấp độ bền chịu nén B50 tương đương bê tông mác M700. Cốt dọc chịu lực 14 thanh loại cốt GFRP đường kính 12mm với cường độ ff = 600MPa (hình 2.7), cốt đai cũng là loại cốt GFRP đường kính đường kính 6mm khoảng cách 250mm. Cốt sợi thủy tinh dạng thanh do công ty Nucetech nghiên cứu và sản xuất. Kết quả thí nghiệm xác định chỉ tiêu cơ lý của vật liệu đã được trình bày trên đây.

c) Trình tự thí nghiệm [2]
+ Lắp đặt hệ gia tải (khung thép gia tải, các khung phản lực, thiết bị thủy lực) và thiết bị đo chuyển vị vào đúng vị trí;
+ Tiến hành gia tải thử ở cấp tải 1 để loại bỏ các khe hở tại các vị trí liên kết, đồng thời kiểm tra sự hoạt động – hiệu chỉnh của hệ gia tải và các đồng hồ đo;
+ Hạ tải về cấp 0, ghi số liệu ban đầu;
+ Thực hiện các cấp gia tải lên cấu kiện thí nghiệm;
+ Tại mỗi cấp tải trọng xuất hiện vết nứt, tiến hành vẽ và ghi nhận giá trị bề rộng vết nứt tương ứng;
+ Sau khi vẽ và đo đạc vết nứt xong, tiến hành tăng tải. Quy trình lặp tương tự cho đến khi các cấu kiện bị phá hủy.
+ Ghi nhận kết quả
2.7. Phân tích kết quả thí nghiệm
a) Quan hệ giữa tải trọng và chuyển vị
Trên hình 2.7 trình bày biểu đồ quan hệ giữa tải trọng và chuyển vị giữa nhịp (P – f) của mẫu thí nghiệm. Giá trị tải trọng P thu được từ thiết bị gia tải, chuyển vị giữa nhịp thu được từ các thiết bị đo chuyển vị V1,V2,V3 và tính toán theo công thức (2.4).
Cấu kiện thí nghiệm làm việc đàn hồi đến cấp tải Pn = 14,3 kN thì xuất hiện vết nứt đầu tiên tương ứng với momen Mn = 7,15 kN.m, trong giai đoạn này quan hệ giữa tải trọng thí nghiệm và chuyển vị lớn nhất tại giữa nhịp gần như tuyến tính. Giá trị momen gây nứt xấp xỉ giá trị dự đoán trong mục 2.5. Tiếp tục tăng tải tới mẫu phá hoại ở cấp tải Pul = 63 kN tương ứng với momen lớn nhất Mul = 31,5kN.m và tương ứng với chuyển vị giữa nhịp 28mm, trong giai đoạn này vết nứt thẳng góc và các vết nứt nghiêng xuất hiện, lan dần và mở rộng đến 0,6mm trước khi phá hoại.

Hình 2.8: Tải trọng và chuyển vị
Ngay sau khi xuất hiện vết nứt, quan hệ giữa tải trọng và chuyển vị lớn nhất cũng vẫn gần như tuyến tính cho đến khi mẫu bị phá hoại. Điều này khác biệt với cấu kiện chịu uốn bê tông cốt thép vì cốt dọc chịu lực bằng GFRP làm việc đàn hồi cho đến khi đứt.
b) Quan hệ giữa momen và độ cong

Hình 2.9: Momen và độ cong
Trên hình 2.9 trình bày biểu đồ quan hệ giữa momen giữa nhịp và độ cong ψ của đoạn giữa nhịp. Giá trị momen được tính toán từ tải trọng trên sơ đồ dầm tĩnh định.

Giá trị độ cong được tính toán từ giá trị biến dạng đo được ở thớ trên T1 và thớ dưới T2 của mẫu thí nghiệm dựa trên nguyên lý trên hình 2.10 và theo công thức sau đây [3]:

Trong đó: h là khoảng cách giữa 2 thiết bị đo biến dạng T1 và T2
Biểu độ quan hệ giữa momen và độ cong của mẫu thí nghiệm có 3 đoạn cơ bản. Đoạn đầu tiên của biểu đồ tương ứng với giai đoạn mẫu chưa xuất hiện vết nứt, quan hệ giữa momen và độ cong gần như tuyến tính và biểu đồ có độ dốc khá lớn cho tới khi cấu kiện xuất hiện vết nứt trong đoạn cấu kiện được gắn thiết bị đo với M=8,9 kN.m.
Đoạn thứ hai của biểu đồ tương ứng với trạng thái mẫu xuất hiện nứt, momen gần như không thay đổi nhưng độ cong tăng đột biến khoảng gấp 3 lần, biểu đồ xuất hiện bước nhảy về độ cong từ 0,0015(1/m) đến 0,0045(1/m).
Đoạn thứ ba của biểu đồ tương ứng với giai đoạn làm việc của tiết diện đã bị nứt, đoạn này cũng gần như tuyến tính nhưng độ dốc chỉ bằng khoảng ¼ độ dốc của đoạn đầu tiên. Có thể thấy rằng dạng biểu đồ quan hệ giữa momen và độ cong của mẫu thí nghiệm khá tương đồng với cấu kiện bê tông cốt thép chịu uốn khi cốt thép chưa chảy dẻo [3,7].
c) Quan hệ giữa độ cứng và momen

Trên hình 2.11 trình bày biểu đồ quan hệ giữa momen và độ cứng của đoạn giữa nhịp. Giá trị momen được tính toán từ tải trọng trên sơ đồ dầm tĩnh định. Giá trị độ cứng được tính toán từ quan hệ giữa momen, độ cong và độ cứng theo công thức sau đây [3]:

Biểu độ quan hệ giữa momen và độ cứng của mẫu thí nghiệm cũng có 3 đoạn cơ bản. Đoạn đầu tiên của biểu đồ tương ứng với khi mẫu chưa xuất hiện vết nứt trong đoạn cấu kiện gắn thiết bị đo M<8,9 kN.m, trong giai đoạn này độ cứng gần như không thay đổi 6600 kN.m2.
Đoạn thứ hai của biểu đồ tương ứng với trạng thái đoạn cấu kiện xuất hiện vết nứt, momen gần như không thay đổi nhưng độ cứng giảm đột biến khoảng 4 lần, biểu đồ xuất hiện bước nhảy về độ cứng từ khoảng 6600 kN.m2 xuống còn khoảng 1600 kN.m2.
Đoạn thứ ba của biểu đồ tương ứng với giai đoạn làm việc của đoạn cấu kiện đã bị nứt, độ cứng gần như không đổi bằng khoảng 1600 kN.m2 cho tới khi phá hoại. Giá trị độ cứng của loại cừ này tương đương 30% độ cứng của loại cừ thép PU6 [9].
d) Hình thành khe nứt

Trên hình 2.12 thể hiện hình ảnh các vết nứt xuất hiện trên mẫu thí nghiệm trong quá trình chất tải. Các vết nứt thẳng góc xuất hiện đầu tiên tại đoạn giữa nhịp vì đoạn này nằm giữa hai điểm đặt tải, chịu momen không đổi Mn = 7,15 kN.m.
Khi tiếp tục tăng tải thì các vết nứt thẳng góc tiếp tục xuất hiện, lan ra tại vùng xung quanh đồng thời với các vết nứt nghiêng xuất hiện tại 2 đoạn gần gối và hướng vào điểm đặt tải. Khi các vết nứt nghiêng xuất hiện thì chiều rộng các vết nứt thẳng góc lại giảm xuống.
Các vết nứt nghiêng bắt đầu xuất hiện ở cấp tải P = 32 kN tương ứng với lực cắt tại đoạn gần gối tựa Q = 16 kN. Tiếp tục tăng tải thì các vết nứt nghiêng mở rộng và ăn sâu vào vùng bê tông chịu nén, đây chính là nguyên nhân gây phá hoại mẫu thí nghiệm.
e) Cơ chế phá hoại
Trên hình 2.13 thể hiện hình ảnh phá hoại của mẫu thử. Ngay trước khi phá hoại, vết nứt nghiêng mở rộng và phát triển ăn sâu vào vùng nén dẫn tới phá hoại vùng liên kết giữa bản bụng và vùng cánh bê tông chịu nén kéo theo phá hoại bản bụng của mẫu thí nghiệm.
Ứng suất trong cốt dọc GFRP trước khi mẫu phá hoại khoảng 238MPa xấp xỉ 40% giới hạn kéo đứt của loại cốt này, giá trị này lớn hơn với giá trị ứng suất giới hạn sử dụng được đề xuất trong tiêu chuẩn Hoa Kỳ ACI code-440.11-22 [8].
Mặc dù giới hạn kéo đứt của cốt GFRP khá cao (600MPa), tuy nhiên mođun đàn hồi của loại cốt này lại rất thấp (44GPa) nên không thể khai thác loại cốt này ở mức ứng suất cao như với cốt thép vì khi biến dạng quá lớn của cốt GFRP kéo theo các vết nứt trong vùng kéo và các vết nứt nghiêng ở bản bụng mở rộng làm cho mẫu thí nghiệm bị phá hoại khá sớm khi ứng suất trong cốt dọc chưa cao, cũng phù hợp với yêu cầu khống chế ứng suất khi chịu tải dài hạn [11].

3. Kết luận
Việc sử dụng cốt GFRP thay thế cho cốt thép cho loại cấu kiện cừ bê tông đúc sẵn là giải pháp khá hiệu quả và phù hợp với những môi trường có tính ăn mòn cao.
Theo kết quả thí nghiệm loại cừ này có ứng xử tương tự như các loại cừ thép và bê tông cốt thép đúc sẵn đang được sử dụng trên thị trường.
Với độ cứng uốn tổng thể bằng khoảng 30% loại cừ thép PU6 cho thấy rằng độ cứng loại cừ này là khá nhỏ so với cừ thép và cần có biện pháp tăng cường như sử dụng giải pháp ứng lực trước cho cốt GFRP.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] TCVN 5574:2018: Tiêu chuẩn thiết kế bê tông và bê tông cốt thép, Tiêu chuẩn Việt Nam.
[2] TCVN 9347:2012: Cấu kiện bê tông và bê tông cốt thép đúc sẵn – Phương pháp thí nghiệm gia tải để đánh giá độ bền, độ cứng và khả năng chống nứt, Tiêu chuẩn Việt Nam.
[3] Phan Quang Minh, Ngô Thế Phong, Nguyễn Trường Thắng, Võ Mạnh Tùng (2021), Kết cấu bê tông cốt thép – Phần cấu kiện cơ bản, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
[4] TCVN 3118:2022: Bê tông – Phương pháp xác định cường độ chịu nén, Tiêu chuẩn Việt Nam.
[5] TCVN 8862:2011: Quy trình thí nghiệm xác định cường độ kéo khi ép chẻ của vật liệu hạt liên kết bằng các chất kết dính, Tiêu chuẩn Việt Nam.
[6] JIS A 5373:2016: Precast prestressed concrete products, Japanese Industrial Standard.
[7] ACI 318-19 (Reapproved 2022), Building Code Requirements for Structural Concrete and Commentary, American Concrete Institute.
[8] ACI code-440.11-22, Building Code Requirements for Structural Concrete Reinforced with Glass Fiber Reinforced Polymer (GFRP) Bars-Code and Commentary, American Concrete Institute.
[9] ArcelorMittal Piling handbook 9th edition.
[10] Jabbar S.A., Saad B.H. Farid (2018), “Replacement of steel rebars by GFRP rebars in the concrete structures”, Karbala International Journal of Model Sience, Vol. 4, 216-227.
[11] Tommaso D’Antino, Marco A. Pisani (2019), “Long-term behavior of GFRP reinforcing bars”, Composite Structure, Vol. 227.








